― かぐや姫(ひめ)(竹取物語(たけとりものがたり)) - Công chúa Kaguya (Hay chuyện chặt tre)

Thứ Năm, 24/07/2014 11:43 (GMT+7)

Vui Học Tiếng Nhật Qua Truyện Cổ Tích Nhật Bản (Song ngữ Nhật - Việt)

昔々(むかしむかし)、ある所(ところ)にお爺(じい)さんとお婆(ばあ)さんが住(す)んでいました。ある日(ひ)、お爺(じい)さんは竹(たけ)を切(き)りに竹林(ちくりん)に入(はい)りました。すると1本(ほん)の光(ひか)り輝(かがや)く竹(たけ)があり、切(き)ってみると、中(なか)から3寸(すん)(約(やく)9センチ(せんち))程(ほど)のとても可愛(かわい)らしい女(おんな)の子(こ)が出てきました。お爺(じい)さんはその子(こ)を家(いえ)で育(そだ)てることにしました。

Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ có một ông lão và một bà lão. Một hôm, ông lão vào rừng tre đốn tre thì bỗng thấy một cây tre phát ra ánh sáng. Ông vội chặt ngang thân tre thì thấy trong ống tre có một bé gái xinh xắn, nhỏ chừng 9cm, bước ra. Ông lão liền đem cô bé về nuôi.

女(おんな)の子(こ)は成長(せいちょう)し、美(うつく)しい娘(むすめ)になりました。「かぐや姫(ひめ)」と名付(なづ)けられたその娘(むすめ)の美(うつく)しさは、村中(むらじゅう)に知(し)れ渡(わた)るほどでした。やがて、娘(むすめ)に貴族(きぞく)の男達(おとこたち)が5人(にん)も訪(たず)ね、皆結婚(みなけっこん)を申(もう)し込(こ)んできました。「わしも年老(としお)いているので、誰(だれ)か1人を選(えら)んで結婚(けっこん)し、安心(あんしん)させておくれ」とお爺(じい)さん。そこで娘(むすめ)は5人(にん)に「私(わたし)の頼(たの)む宝物(たからもの)を持(も)ってきた方(ほう)と結婚(けっこん)する」と言(い)いますが、どれも聞(き)いたことのない物(もの)で、誰(だれ)1人持(にんも)ってくることができませんでした。

Cô bé lớn lên và trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Một ngày nọ, có 5 chàng trai, con nhà quý tộc, tới xin cưới nàng làm vợ. Ông lão nói “Cha cũng đã già rồi. Con chọn lấy một người làm chồng cho cha yên tâm”. Nàng bèn nói “Vậy, ai là người mang tới cho ta hòn ngọc ước, ta sẽ lấy làm chồng”. Nhưng chưa ai từng nghe nói tới hòn ngọc này, nên cuối cùng chẳng có ai cưới được nàng cả.
その内(うち)、美(うつく)しい娘(むすめ)の評判(ひょうばん)が皇帝(こうてい)の耳(みみ)にも入(はい)りました。皇帝(こうてい)はかぐや姫(ひめ)にどうしても会(あ)いたいと、お爺(じい)さんとお婆(ばあ)さんの元(もと)を訪(たず)ねてきました。しかし娘(むすめ)は「皇帝(こうてい)であっても会(あ)いたくない」と姿(すがた)を出(だ)しません。皇帝(こうてい)は益々会(ますますあ)いたくなって、こっそり部屋(へや)を盗(ぬす)み見(み)たところ、娘(むすめ)は本当(ほんとう)にこの世(よ)のものとは思(おも)えぬほど美(うつく)しいのでした。
Thế rồi, tiếng tăm của nàng bay tới tận nhà vua. Nhà vua rất muốn được gặp nàng Kaguya nên đã đích thân tới tận nhà của ông bà lão. Nhưng nàng Kaguya nói “Con không muốn gặp nhà vua” và nhất định không ra khỏi nhà. Thấy vậy, nhà vua càng muốn gặp nàng hơn, nên đành phải tìm cách nhìn trộm vào phòng nàng. Và quả thật, nhà vua thấy nàng là một tuyệt thế giai nhân.

 かぐや姫(ひめ)とどうしても結婚(けっこん)したいと皇帝(こうてい)は何度(なんど)も手紙(てがみ)を書(か)くなどしました。しかし娘(むすめ)は承知(しょうち)せず、とうとう3年(ねん)が過(す)ぎた頃(ころ)、毎晩月(まいばんづき)を見(み)ながら泣(な)くようになりました。お爺(じい)さんがどうして泣(て)くのか尋(たず)ねると、娘(むすめ)は「実(じつ)は私(わたし)は月(つき)からやってきた者(もの)です。次(つぎ)の満(まん)に月(つき)からやってくる使者(ししゃ)と帰(かえ)らなければいけないので、泣(な)いているのです」と言(い)います。お爺(じい)さんもお婆(ばあ)さんも驚(おどろ)き、悲(かな)しみました。またそれを知(し)った皇帝(こうてい)は、帰(かえ)らせるものかと満月の日(ひ)に使者(ししゃ)を追(お)い払(はら)う軍(ぐん)を出(だ)しました。しかし、天(てん)からの使者(ししゃ)を負(ま)かすことはできず、かぐや姫(ひめ)はお爺(じい)さんとお婆(ばあ)さんとの別(さ)れを悲(かな)しみながら、また皇帝(こうてい)には別(わか)れの品(しな)にと「不死(ふし)の薬(くすり)」を渡(わた)して、月(つき)へと昇(のぼ)っていきました。

Nhà vua nhiều lần viết thư, bày tỏ mong muốn cưới nàng làm vợ. Nhưng nàng nhất định không đồng ý. Chẳng mấy chốc mà 3 năm trôi qua, đêm nào nàng cũng ngẩng đầu nhìn trăng mà khóc. Ông lão bèn hỏi làm sao con khóc thì nàng nói “Thật ra con là người từ cung trăng tới. Đến dịp trăng tròn sau, sẽ có sứ giả từ mặt trăng tới đón con về, nên con khóc.”

Ông lão và bà lão nghe vậy thì rất kinh ngạc và buồn rầu. Nhà vua nghe thấy vậy bèn nghĩ nhất định không để cho nàng về và dự định đến tuần trăng tròn tới sẽ đưa quân đến đánh sứ giả. Tuy nhiên, quân của nhà vua đã không thắng được sứ giả, nên nàng Kaguya đành buồn rầu chia tay với vợ chồng ông lão, đồng thời trao cho nhà vua một gói thuốc trường sinh, gọi là quà tặng biệt ly, rồi theo sứ giả bay lên trời.


皇帝(こうてい)は「かぐや姫(ひめ)が去(さ)った今(いま)、不死(ふし)の薬(くすり)など不要(ふよう)」と一番高(いちばんたか)い山(やま)でその薬(くすり)を焼(や)きました。それからその山(やま)は「ふじ(不死(ふし))の山(やま)(富士山(ふじさん)のこと)」と呼(よ)ばれるようになったとさ。

Nhà vua buồn bã nói “Nàng Kaguya đã về rồi thì ta còn cần thuốc trường sinh mà làm gì”. Nói rồi, nhà vua mang thuốc lên đỉnh núi cao nhất mà đốt đi. Từ đó, người ta gọi đây là Núi bất tử (tức là núi Phú Sĩ bây giờ)

Ghi chú: “Bất tử”, trong tiếng Nhật đọc là “Fushi”, đồng âm với từ “Fuji” trong từ “Fujisan” tức “Núi Phú Sĩ ”.